บทที่ 40 จาก 134
五行大义
Khổng Tử nói: Càn tượng trưng cho Dương, Khôn tượng trưng cho Âm. 🌱 Khí Âm Dương dung hòa lẫn nhau là gốc rễ của Ngũ Hành. Vạn vật từ trời mà được sinh mệnh, từ đất mà được hình thể; từ khí Dương mà nhận năng lượng, trong khí Âm mà định hình. Không một sự vật nào tồn tại đơn độc, vì thế mỗi thứ đều có đối tượng tương hợp.
Nhìn tổng quát: Thiên Can thuộc Dương, tượng trưng trời; Địa Chi thuộc Âm, tượng trưng đất. Nhìn riêng rẽ: Bản thân Thiên Can cũng chia Âm Dương — Giáp Dương, Ất Âm, Bính Dương, Đinh Âm, Mậu Dương, Kỷ Âm, Canh Dương, Tân Âm, Nhâm Dương, Quý Âm; Địa Chi cũng chia Âm Dương — Tý Dương, Sửu Âm, Dần Dương, Mão Âm, Thìn Dương, Tỵ Âm, Ngọ Dương, Mùi Âm, Thân Dương, Dậu Âm, Tuất Dương, Hợi Âm. Mỗi một đều tượng trưng cho trời đất, lại tự mình phối hợp với nhau, như đạo vợ chồng.
Quy luật Thiên Can tương hợp là:
Kỷ là vợ của Giáp, nên Giáp hợp với Kỷ;
Tân là vợ của Bính, nên Bính hợp với Tân;
Quý là vợ của Mậu, nên Quý hợp với Mậu;
Ất là vợ của Canh, nên Ất hợp với Canh;
Đinh là vợ của Nhâm, nên Nhâm hợp với Đinh.
Sách “Âm Dương Thuyết” của họ Quý giải thích:
🌳 Mộc (Giáp) sợ Kim (Canh) khắc chế, nên gả em gái là Ất cho Canh. Canh thuộc Kim mùa Thu, hòa hợp với khí Mộc, vì thế cây tề mạch mọc vào mùa Thu, đó là nghĩa vợ đến.
🔥 Hỏa (Bính) sợ Thủy (Nhâm) khắc chế, nên gả em gái là Đinh cho Nhâm. Nhâm được khí nóng của Hỏa, vì thế hoa khoản đông nở vào mùa Đông.
⚔️ Kim (Canh) sợ Hỏa (Bính) khắc chế, nên gả em gái là Tân cho Bính. Bính được khí Kim, vì thế vào đầu mùa Hạ, cỏ mĩ và tề mạch héo úa. Sau Hạ chí có ba ngày phục, là vì Kim sợ Hỏa.
⛰️ Thổ (Mậu) sợ Mộc (Giáp) khắc chế, nên gả em gái là Kỷ cho Giáp. Thổ tự mang thuộc tính Âm Dương, lấy sự Âm nhu gả cho Mộc Dương, vì thế có thể hóa sinh vạn vật.
🌊 Thủy (Nhâm) sợ Thổ (Mậu) khắc chế, nên gả em gái là Quý cho Mậu.
Ngũ Hành thông qua cách này mà đạt được sự tương sinh tương hòa cân bằng.
Địa Chi tương hợp thì dựa theo vị trí sao tinh mặt trời mặt trăng hội tụ mà xác định: